|
Năm năm sau khi Mẹ Têrêsa qua đời trong cảnh khó nghèo giữa các người nghèo khó nhất của Calcutta. |
VietCatholic News (09/09/2002 )
Mùng 5 tháng 9 năm 1997, cách đây đúng 5 năm, Mẹ Têrêsa
thành Calcutta, sáng lập Dòng Các Nữ tu Thừa sai bác ái, qua đời
trong cảnh khó nghèo giữa các người nghèo khó nhất của Calcutta, thành phố
đã được liên kết với tên Mẹ và với sứ mệnh tông đồ của Mẹ.
Mẹ qua đời trong cảnh nghèo khó giữa những người nghèo khó nhất trên
thế giới này. Mẹ chỉ để lại làm gia tài một Ảnh Thánh giá và một
tràng hạt đã bị mòn đi nhiều; đây là tràng hạt mà Mẹ luôn luôn cầm
trong tay, để cầu nguyện, bất cứ ở nơi nào, bất cứ lúc nào, cả lúc
Mẹ gặp các Vị lãnh đạo các quốc gia, hay Cộng đồng quốc tế, cả lúc
Mẹ lãnh Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1979 tại Stockolm, thủ đô Thụy
điển.
Trước khi qua đời, Mẹ còn
xin tháo bỏ đôi giép (sandales) đơn sơ và cũ kỹ, để Mẹ có thể đến
trước mặt Chúa không giầy, không giép, trong sự khiêm tốn tuyệt đối của
một trong các người nghèo khó nhất trên thế giới này.
Mẹ qua đi trong khó nghèo vật chất, nhưng đã để lại một gia tài
thiêng liêng vô giá. Các người thừa kế gia tài này không phải chỉ là
những ai đã sống bên cạnh Mẹ và thi hành cũng một sứ mệnh của Mẹ.
Các người thừa kế gia tài của Mẹ có thể nói được là tất cả mọi
người chúng ta, không phân biệt có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng,
bởi vì tất cả chúng ta, không trừ một ai cả, đều được mời gọi nhìn
nhận khuôn mặt của Chúa Kitô nơi dung mạo của tất cả những ai bị
đau khổ. Nhân loại đau khổ kêu cứu và chất vấn lương tâm mỗi một
người trong chúng ta.
Thật là một gương mù hết sức lố bịch, nếu chúng ta nghĩ đến Hội
nghị thượng đỉnh vừa qua tại Johannesburg. Trong lúc người dân đói khổ,
không cơm ăn, không nước uống, các phái đoàn hùng hậu của các quốc
gia tham dự Hội Nghị, sống tại các khách sạn bốn sao, năm sao, với những
thực phẩm hảo hạng, cả rượu champagne được chở từ các nước Tây
phương đến Johannesburg, để thỏa mãn khẩu vị của các phái đoàn trong
10 ngày Hội nghị thượng đỉnh.
Trước hội nghị, nhà cầm quyền
Nam phi ra lệnh quét sạch các người hành khất khỏi thành phố. Các phái
đoàn không dám viếng thăm vùng ngoại ô, xóm nhà lá, ổ chuột, nơi các
người nghèo sống chui rúc, thiếu thốn mọi dịch vụ vệ sinh. Cảnh
Lagiaro nghèo khổ, bệnh hoạn, nằm trước cửa nhà người hộ phú chờ đợi
những mụn bánh rơi rớt từ mân cao cỗ đầy... vẫn tiếp diễn hằng ngày
trên thế giới văn minh này, một thế giới vẫn tự phụ tiến bộ về mọi
phương diện, nhưng đầy bất công, ích kỷ, trục lợi...
Chúng ta có thể nhắc lại nơi đây lời Mẹ Têrêsa trả lời cho một
phóng viên báo chí đến quan sát công việc của Mẹ tại Calcutta. Thấy Mẹ
làm những công việc ghê tởm: cúi mình trước những người hấp hối,
người phong cùi, ông nói với Mẹ:
Nếu có ai cho tôi một triệu Mỹ kim đi nữa, tôi cũng không có can đảm làm những việc ghê tởm như vậy.
Mẹ trả lời: Tôi không làm vì tiền bạc. Tôi làm vì tôi nhìn thấy khuôn mặt của Chúa đau khổ nơi anh chị em tôi.
Khẩu hiệu được viết khắp
nơi tại các cơ sở của Mẹ là chính lời Chúa Giêsu nói trên Thánh Giá:
Ta khát: Ta khát tình yêu! Ðây là cái Mẹ Têrêsa và các con cái của Mẹ
đang ban phát cho nhân loại đau khổ, bị loại ngoài lề xã hội.
Ðể biểu lộ lòng biết ơn Mẹ, vị đại ân nhân không những của
Calcutta, của Ấn độ mà thôi, nhưng của cả nhân loại đau khổ, ngày 13
tháng 9 năm 1997, Chính phủ đã tổ chức lễ nghi an táng hết sức long trọng,
với sự tham dự của nhiều vị quốc trưởng và thủ tướng trên thế giới.
Quốc táng như vậy chỉ dành
cho lãnh tụ Mahatma Gandhi, vị Anh hùng của nền độc lập Dân tộc mà
thôi. Trong ngày lễ an táng Mẹ Têrêsa, Ấn độ như ngừng mọi hoạt động
để cùng nhau hướng về Calcutta và nói lên lời cảm ơn Vị Nữ tu của
Giáo hội công giáo, đã hy sinh suốt cuộc đời cho các người nghèo khổ
nhất trong các người nghèo khổ. Người dân Ấn độ không phân biệt tôn
giáo: Ấn giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều nghiêng mình trước thi hài của
Vị Nữ tu nầy, nhỏ bé về thể xác, nhưng là một vĩ nhân trước nhân
loại và trước Thiên Chúa.
ÐTC Gioan Phaolô II biết Mẹ từ lâu và đã viếng thăm cơ sở của Mẹ tại
Calcutta trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ấn độ tháng hai năm 1986.
ÐTC đã cử ÐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh, làm Ðặc sứ của ngài, chủ
tế thánh lễ an táng Mẹ Têrêsa. Và chính ÐTC, theo lời thỉnh cầu của
nhiều Giám mục và giáo dân trên thế giới, đã ban phép làm án phong Chân
phước cho Mẹ trên cấp giáo phận, sau hai năm qua đời, thay vì 5 năm theo
luật ấn định. Công việc được khởi sự ngày 26/07/1999, và ngày Lễ Ðức
Mẹ linh hồn và xác lên trời năm 2001 vừa qua, tất cả các hồ sơ đã
được Ðức TGM Calcutta chuyển về Bộ Phong Thánh ở Roma. Bộ Phong Thánh
đang xúc tiến nhanh chóng, để trong thời gian gần đây, Mẹ Têrêsa được
cất nhắc lên danh dự bàn thờ.
Dĩ nhiên người dân, Công giáo
hay ngoài Công giáo, vẫn coi Mẹ là Thánh, ngay từ lúc còn sống và mộ của
Mẹ tại Calcutta trở nên nơi hành hương và cầu nguyện hằng ngày. Nhưng
để được tôn kính công khai, sự thánh thiện của Mẹ cần được Giáo
hội chính thức công nhận và tuyên bố.
Có người hỏi: Mẹ Têrêsa đã làm những gì đặc biệt?
Mẹ trả lời luôn luôn bằng lời này: Cái chúng tôi làm chỉ là một giọt nước trong Ðại dương, nhưng nếu chúng tôi không làm thì Ðại dương thiếu đi một giọt nước.
Trong dịp khác Mẹ trả lời: Nhưng tôi có làm gì đặc biệt đâu.
Ngày nay gia đình tinh thần của Mẹ Têrêsa nguyên ngành nữ mà thôi có khoảng
4,500 Nữ tu hoạt động trong gần 700 nhà, rải rắc tại 127 quốc gia. Bề
trên Tổng quyền Dòng Các Nữ Tu thừa sai bác ái, do Mẹ thiết lập ngày
7/10/1950 (Lễ kính Ðức Maria rất thánh Mân côi) là Nữ Tu Nirmala Joshi, từ
Ấn giáo trở lại Công giáo. Ðược hỏi: Từ ngày Mẹ qua đời, những gì
đã thay đổi trong 5 năm nay, Vị Tổng phụ trách trả lời cách hết sức
đơn sơ: Không có gì thay đổi cả, bởi vì các người
nghèo luôn luôn ở giữa chúng tôi và Mẹ chỉ xa cách chúng tôi về thể
xác mà thôi. Chúng tôi vẫn tiếp tục làm công việc Mẹ đã dạy chúng
tôi bằng gương sáng của Mẹ. Chúng tôi phục vụ các người nghèo khổ,
vì nơi họ chúng tôi nhìn ra chính Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu chúng tôi phục
vụ nơi các người nghèo là chính Chúa Giêsu chúng tôi tôn thờ trong Thánh
Thể. Vì lý do này chúng tôi là những người chiêm niệm trong hành động.
Cũng nên nhắc lại: Mỗi ngày, mỗi Nữ tu thừa sai bác ái chầu Thánh Thể
một giờ. Chính đây là sức sống, sức mạnh và thành công của các hoạt
động của Hội Dòng. Mẹ Têrêsa thường nhắn nhủ con cái Mẹ như sau: Thì
giờ trước Nhà Tạm với Chúa không phải là thì giờ mất đi.
Sau khi Mẹ qua đời, Dòng Nữ tu thừa sai bác ái đã trải qua cả kinh nghiệm
của Phúc Tử đạo. Ðây là điều Mẹ vẫn ước ao cho chính mình. Sáu Nữ tu của Dòng đã bị sát hại năm 1998 tại Yemen và năm
1999 tại Siera-Leone. Sơ Nirmala Joshi nói: Chúng tôi rất đau đớn,
nhưng đồng thời chúng tôi hãnh diện và cảm tạ Chúa, bởi vì Người đã
ghi dấu Hội Dòng chúng tôi bằng máu của các vị tử đạo, dù chúng tôi
biết mình không xứng đáng với ơn lạ lùng này. Chính Mẹ Têrêsa đã cầu
xin ơn tử đạo, để hiến tất cả cho Giáo hội. Cũng vì lý do này chúng
tôi biết rằng: Mẹ vẫn tiếp tục nâng đỡ và theo dõi các bước đi của
chúng tôi. Sáu Nữ tu bị sát hại đã có kinh nghiệm về đói khát, mệt
nhọc, bệnh tật, bị đe dọa tình mạng và chế nhạo... Các chị em này
đã thấy những tàn bạo bạo vây chung quanh mình, đã thấy sự chết trước
mắt: cái chết của những anh chị em mình và của biết bao người vô tội.
Các chị em này không sợ chết và hô lớn tiếng xin đừng giết những
người đã sát hại chị em mình, bởi chính Chúa Giêsu đã dạy tha thứ
không phải một lần, nhưng bẩy mươi bẩy lần bẩy.
Chính Mẹ Têrêsa đã soạn ra những lời tổng kết bí quyết sống tình
bác ái như sau:
Thành quả của yên lặng là cầu nguyện.
Thành quả của cầu nguyện là đức tin.
Thành quả của đức tin là tình yêu.
Thành quả của tình yêu là phục vụ.
Thành quả của phục vụ là hòa bình.
Bí quyết vắn tắt trên đây luôn luôn được kèm theo lời nguyện: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con xứng đáng phục vụ các người nghèo.
Ðức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài