[kesatuploadedUpdate4Nov2010/suyniem/ThanhLeQuayLenXuongMenu.htm] 

In bài

 


 

THÁNH LỄ QUAY LÊN

THÁNH LỄ QUAY XUỐNG

Tiến sĩ Jb Vubao

 

Ngày 7 tháng 7 năm 2007 vừa qua, Tòa Thánh Vatican giới thiệu với toàn Giáo Hội Công Giáo bức Tông Thư của Đức Bênêđitô XVI dưới nhan đề ‘Summorum Pontificum’ (Về quyền tối cao Giáo Hoàng). Đây là văn kiện thuộc loại motu proprio, nghĩa là dựa trên quyền bính riêng của vị Giáo Chủ.

Summorum Pontificum cho phép các linh mục có thể cử hành nghi thức thánh lễ cũ trước Vatican II trong phòng riêng hoặc nơi thánh đường có giáo dân tham dự, ngoại trừ Tuần Tam Nhật Thánh; đặc biệt, khi có một nhóm giáo dân “căn bản” yêu cầu. Qua bức Tông thư, Đức Bênêđitô XVI nhắc nhớ các giám mục nên tạo mọi dễ dàng cho các cộng đoàn giáo xứ cử hành thánh lễ kiểu cũ khi có yêu cầu. Nếu linh mục và các giám mục địa phương không đáp ứng thỏa đáng nhu cầu người giáo dân, luật motu proprio cho phép giáo dân đệ trình trực tiếp với Ủy Ban Ecclesia Dei thuộc Tòa Thánh.

Nghi thức thánh lễ tiền Vatican II - hay chính xác hơn, Nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô - còn được mệnh danh là “Nghi Thức Thánh Lễ 1962” vì đó là lần canh tân nghi thức sau cùng trước khi bước vào thời đại Vatican II (1962-1965). Một số người gọi đó là “Thánh Lễ Latinh” để phân biệt với thánh lễ hiện tại sử dụng ngôn ngữ địa phương. Cách gọi này không chuẩn lắm vì nghi thức thánh lễ hôm nay vẫn cho phép sử dụng tiếng Latinh. Ngôn ngữ bình dân thích phân biệt “thánh lễ quay lên” với “thánh lễ quay xuống”, ám chỉ cuộc chuyển đổi 180 độ trong phụng vụ mới. Đức Bênêđitô trong ‘Summorum Pontificum’ gọi nghi thức thánh lễ mới là nghi thức “thông thường” của thánh lễ, và nghi thức tiền Vatican II là hình thức thánh lễ “ngoại thường”; nghĩa là, không có hai loại thánh lễ, nhưng chỉ là hai hình thức khác nhau của một hy lễ Thánh Thể.

Summorum Pontificum không chỉ giới hạn trong việc cử hành thánh lễ, nhưng bao gồm các nghi thức bí tích khác, kể cả nghi thức an táng dựa theo cấu trúc “Nghi thức 1962”. Những quyết định trong bức Tông Thư bắt đầu có hiệu lực từ 14 tháng 9, 2007, lễ Suy tôn Thánh Giá. Khi công bố Summorum Pontificum, Đức Thánh Cha xác định đây là “hoa trái của bao suy tư, trải qua bao thăm dò và tư vấn, kèm theo bao lời cầu”.

Thực ra, đây không là quyết định quá mới lạ với Giáo Hội Công Giáo. Năm 1984 và sau đó 1988, Đức Gioan Phaolô II đã cho phép cử hành Nghi thức thánh lễ 1962 với sự đồng ý của giám mục địa phương. Summorum Pontificum chỉ mở rộng và khuyến khích các giám mục, linh mục nên cử hành thánh lễ Công Đồng Trentô khi có yêu cầu từ phía giáo dân, và không nhất thiết sự phê chuẩn từ phía bản quyền địa phương.

Kèm theo bức Tông Thư, Đức Bênêđitô XVI còn gửi cho các giám mục toàn thế giới lá thư giải thích Tông Thư trên, đồng thời trấn an các giám mục trước nỗi lo một cuộc phân rẽ mới trong Giáo Hội hoặc thoái lui với Công Đồng Vatican II.

 

Summorum Pontificum với Giáo Hội Toàn Cầu

Hồng Y Camillo Ruini, Phó Giáo Phận Roma, tiết lộ động lực đầu tiên và chính yếu dẫn đến Tông Thư Summorum Pontificum là cuộc hiệp nhất trong Giáo Hội, một “bước trước” trong cuộc hòa giải với giới công giáo truyền thống là các thành viên thuộc nhóm Piô X do Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre thành lập. Hiện nay, bốn giám mục thuộc nhóm này vẫn trong tình trạng vạ tuyệt thông vì được truyền chức ngoài thẩm quyền Roma.

Để xác minh điều đó, ngày 10 tháng 7 năm 2007 Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin cũng công bố  “Những lời đáp cho vấn nạn liên quan đến một số khía cạnh tín lý về Giáo Hội” do Hồng Y Bộ Trưởng William Levada ký. Được xem là khai sáng những tín điều Giáo Hội Công Giáo, thực ra, tài liệu nối tiếp Summorum Pontificum cổ võ nền hiệp nhất với giáo phái công giáo truyền thống tách rời khỏi Giáo Hội sau thời Công Đồng Vatican II.

Tài liệu đưa ra năm vấn nạn cụ thể, nhưng có lẽ vấn nạn đầu tiên được xem là điểm nòng cốt: Công Đồng Vatican II có thay đổi tín điều công giáo về Giáo Hội không ? Rõ ràng đây không là vấn nạn của Chính Thống Giáo hay các giáo phái Tin Lành, nhưng là chìa khóa then chốt của những người dõi theo bước chân Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre, tin rằng Giáo Hội với Công Đồng Vatican II đã cố tình xoay chuyển lời dạy truyền thống của Giáo Hội.

Tài liệu trả lời:

Công đồng Vatican II đã không thay đổi và không hề có ý định thay đổi tín điều công giáo về Giáo Hội. Đúng ra, Công Đồng khai triển, đào sâu, và giải thích tròn đầy hơn tín điều đó. Đây chính là mục tiêu Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII xác quyết ngay khi khai mạc Công Đồng. Đức Phaolo VI khi ban hành Hiến Chế Lumen Gentium cũng xác quyết tín điều truyền thống của Giáo Hội ngàn năm như một. “Những gì Đức Kitô muốn, chúng tôi cũng đang muốn. Những gì Giáo Hội đã truyền dạy qua bao thế kỷ, chúng tôi cũng đang giảng dạy”.

Đáp lời Tông Thư Summorum Potificum, Giám Mục Bernard Fellay, Tổng Toàn Quyền Giáo Phái Piô X, tuyên bố:

Đây thực là một ngày đáng nhớ trong lịch sử. Chúng tôi muốn gửi đến Đức Bênêđitô XVI lời biết ơn sâu xa. Tông Thư của ngài là món quà của ơn ban. Đây không chỉ là một bước tiến, nhưng là bước đi đúng hướng. Đây còn là một hành vi công lý, một trợ giúp siêu nhiên phi thường giữa khoảng khắc khủng hoảng trầm trọng nơi Giáo Hội.

Ngay trong lòng Giáo Hội Công Giáo, những người ủng hộ nghi thức thánh lễ tiền Vatican II cũng bày tỏ nỗi mừng vui với bức Tông Thư của Đức Bênêđitô. Linh Mục Joseph Kramer, chánh xứ San Gregorio Dei Muratori, một trong ba giáo xứ tại Roma được phép cử hành nghi thức thánh lễ 1962 không ngừng ngạc nhiên: “Tông Thư của Đức Bênêđitô XVI vượt quá những gì chúng tôi đang kỳ vọng”.

Michael Dunnigan, chủ tịch nhóm Una Voce America từng đấu tranh duy trì các nghi thức cổ xưa trong Giáo Hội, phấn khởi ra mặt: “Thánh lễ truyền thống là viên đá quý trong di sản Giáo Hội, và Đức Thánh Cha đã tiến một bước quan trọng nhất phục hồi lại kho tàng gia bảo của Giáo Hội cho người tín hữu”.

Trong khi đó, nữ tu Mary Collins thuộc dòng Benedictine, chuyên gia về phụng vụ với nhiều cuốn sách nổi tiếng, e ngại thẩm quyền mục vụ của các giám mục địa phương bị ảnh hưởng và quyền hành tập trung của Roma ngày càng lớn qua Tông Thư Summorum Pontificum. “Luật motu proprio có thể dẫn đến nhiều hàm hồ và gây phân rẽ trong lòng Giáo Hội một cách chủ ý hay vô tình”.

Linh Mục Dòng Tên Keith Pecklers, chuyên gia phụng vụ thuộc Đại Học Gregory tại Roma đưa ra vấn nạn Giáo Hội học: “Những người ủng hộ nghi thức thánh lễ cũ phần lớn bất đồng quan điểm với Vatican II trong khóe nhìn Giáo Hội đối thoại với thế giới hiện đại, thích ứng phụng vụ với các nền văn hóa khác biệt, đẩy mạnh đối thoại đại kết với các Kitô giáo khác và đối thoại liên tôn với người Do thái và Hồi giáo”. Theo ngài, việc cho phép trở về với nghi thức thánh lễ tiền Vatican II không giải quyết được ngọn núi lửa đang sục sôi chờ ngày phát nổ giữa lòng Giáo Hội toàn cầu.

Tiếp nhận Summorum Pontificum, với chúng ta, điều quan trọng không là vấn đề mới-cũ, quay lên hay quay xuống. Khi cho phép cả hai hình thức thánh lễ cùng hiện diện trong cuộc sống Giáo hội, Đức Bênêđitô muốn nhấn mạnh tính liên tục trong truyền thống Giáo Hội. Lịch sử Phụng Vụ Giáo Hội luôn chứng minh một chu trình tăng trưởng và phát triển, không hề có đoạn tuyệt, dứt bỏ. Đức Thánh Cha giải thích: “Những gì các thế hệ trước đây cho là thánh thiêng, vẫn đầy tính thánh thiêng và đáng kính trọng đối với chúng ta hôm nay. Không thể một sáng một chiều cái cũ bị hủy bỏ, cấm đoán, và có vẻ xem ra nguy hại nữa”.

Hơn thế, Tông Thư còn đề cao nét phong phú hỗ tương giữa hai hình thức thánh lễ “thông thường” và “ngoại thường” bằng cách cho phép sử dụng chu trình bài đọc của nghi thức thánh lễ mới trong khi cử hành nghi thức thánh lễ 1962, kể cả việc sử dụng ngôn ngữ địa phương với các bài đọc.

Nền phụng vụ Vatican II rộng mở cho sáng tạo tính và nét hội nhập văn hóa đôi khi biến phụng vụ thánh thành sàn diễn quá “đời”. Ngày càng có nhiều người trẻ cảm thấy phụng vụ hiện đại thật “khó chấp nhận” và muốn “quay ngược dòng tìm về nét thánh thiêng phụng vụ thuở ban sơ”. Đức Bênêđitô khi còn là Hồng Y Bộ Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Về Đức Tin cũng nhiều lần diễn tả tâm trạng đó: “Tôi từng cảm nghiệm giai đoạn sống này với đầy hy vọng và cũng đầy hàm hồ. Và tôi cũng từng chứng kiến bao méo mó trong phụng vụ khiến nhiều tâm hồn bám rễ sâu trong niềm tin Giáo Hội phải rên xiết đớn đau”.

Tuy nhiên, cũng phải chân nhận một số vấn đề phát sinh khi cùng sử dụng hai Nghi thức thánh lễ trong Giáo Hội. Trước tiên là năm phụng vụ. Nghi thức phụng vụ mới chuyển rất nhiều lễ trọng trong chu trình phụng vụ vào các ngày Chúa Nhật. Không lẽ lịch phụng vụ hôm nay bao gồm hai lễ Hiển Linh: Lễ Chúa nhật Hiển Linh cho những ai cử hành nghi thức mới và ngày 6 tháng Giêng cho những ai theo nghi thức 1962 ? Mùa phụng vụ giữa hai nghi thức cũng không hề đi chung lối đường. Những Chúa nhật tuần 7, tuần 6, tuần 5 trước Mùa Chay không hề có trong năm phụng vụ mới. Và những Chúa Nhật sau lễ Hiện Xuống trong Nghi thức phụng vụ Công đồng Trentô không hẳn là Chúa Nhật mùa Thường Niên theo nghi thức mới. Thật quá phức tạp và rắc rối!

Nên nhớ rằng Summorum Pontificum không chỉ giới hạn trong nghi thức thánh lễ nhưng rộng mở ra các bí tích khác. Một ví dụ, nghi thức khai tâm Kitô Giáo hậu Vatican II không chỉ tập trung vào cử hành dấu chỉ bí tích nhưng dẫn đưa người tân tòng từng bước tiến vào nguồn suối cứu độ và hội nhập vào cộng đồng dân Chúa qua chu trình phụng vụ. Thật khó nghĩ cho các linh mục, tu sĩ, và giảng viên giáo lý khi được yêu cầu tuân theo nghi thức rửa tội 1962: làm sao để phối hợp giữa phụng vụ với khóe nhìn giáo lý mới?

Điểm nóng trong nghi thức thánh lễ 1962 là lời cầu phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh cho người Do Thái quy phục về với Chúa Kitô. Rất may Tông Thư đưa ra luật trừ cho cử hành phụng vụ Tuần Thánh. Tuy nhiên, dù muốn dù không, quay về với nếp xưa lối cũ luôn gợi lại vết thương đau trong tương giao Công Giáo - Do Thái Giáo.

Sau cùng, nghi thức thánh lễ hậu Vatican II được phổ biến năm 1970 và trải qua nhiều canh tân thay đổi. Lần thay đổi mới nhất vào thời Đức Gioan Phaolô II năm 2000. Trong khi đó, nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô sau lần canh tân năm 1962 do Đức Gioan XXIII đã được đóng gói kỹ trong kho hay nơi các bảo tàng viện. Giáo Hội đồng hành với thế giới trải qua bao đổi thay suốt hơn nửa thế kỷ qua. Những lời cầu trong nghi thức thánh lễ 1962 có còn đại diện cho những nhu cầu và niềm khát vọng của người thế hệ hôm nay? Biết bao vị thánh mới được tuyên phong xứng đáng là tấm gương cho thời đại hôm nay sẽ không hề được nhắc nhớ khi cử hành phụng vụ theo Nghi thức 1962. Cần thời gian dài cho cuộc canh tân phụng vụ, nhưng không phải phụng vụ hôm nay, mà là một nghi thức phụng vụ... tiền Vatican II. Thật khó hiểu và khó... nắm bắt!

 

Summorum Pontificum với Giáo Hội Việt Nam

Nếu ai từng thăm viếng một số thánh đường cổ kính tại Việt Nam sẽ nhận ra ngoài bàn thờ đặt giữa cung thánh còn một bàn thờ phía trên với nhà tạm thiết kế trang trọng chính giữa, đó là chứng tích của nền phụng vụ tiền Vatican 2 với việc cử hành thánh lễ quay lên theo nghi thức Công Đồng Trentô.

Có lẽ Summorum Pontificum không gây tác động lớn với Giáo Hội Việt Nam, phần vì Hội Đồng Giám Mục Việt Nam rất nhanh chóng tiếp nhận và thích ứng với phụng vụ mới của Vatican II; phần khác ngôn ngữ Latinh không được phổ biến rộng rãi với người tín hữu Việt Nam, mặc dù trước năm 1975 tại Miền Nam Việt Nam ngôn ngữ Latinh được Bộ Giáo Dục công nhận trong giảng dạy như một thứ cổ ngữ, tương đương với tiếng Hán Nho. Tuy nhiên Latinh cũng chỉ được phổ biến hạn hẹp trong môi trường chủng viện, dòng tu.

Tông Thư của Đức Bênêđitô xác định rõ những ai “có hấp lực rõ ràng với nghi thức Công Đồng Trentô” có thể yêu cầu linh mục trong giáo xứ mình cử hành thánh lễ theo nghi thức 1962. Một ví dụ, gia đình Garrett Dalhoff sinh sống tại Tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, đã phải chấp nhận bao hy sinh để được tham dự thánh lễ Chúa Nhật hàng tuần theo nghi thức tiền Vatican II. Mỗi sáng Chúa Nhật, hai vợ chồng và 8 người con thức giấc lúc 5 giờ 30, một hy sinh đáng kể cho ngày nghỉ cuối tuần. Chưa hết, họ phải vượt đoạn đường hơn 120 km, kịp giờ lễ lúc 8 giờ 30 được cử hành theo nghi thức 1962 bằng tiếng Latinh. Đó là cái giá phải trả cho những giáo dân như gia đình Dalhoff. Ông tâm sự: “Càng cảm nghiệm với thánh lễ Latinh, tôi càng yêu mến ngày Chúa Nhật và sẵn sàng chiếm đoạt món quà quý giá này bằng bất cứ giá nào”. Nay với Summorum Pontificum, họ có thể cùng với vài gia đình khác yêu cầu cha sở địa phương cử hành thánh lễ riêng cho họ tại giáo xứ của mình.

Ngay tại Hoa Kỳ, Đức Ông James Moroney, giám đốc điều hành văn phòng phụng vụ của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đánh giá khoảng “2 đến 3 phần trăm” số linh mục tại Mỹ biết cử hành thánh lễ tiền Vatican II. Và với những qui luật rộng mở của Summorum Pontificum, Đức Ông tin rằng số linh mục sẽ cử hành thánh lễ theo “nghi thức 1962” cũng không vượt quá 10 phần trăm.

Quả thế, nhiều dự đoán cho rằng Sumorum Pontificum sẽ gây tác động mạnh đến các quốc gia Âu châu hơn là Mỹ Châu và Á châu, đặc biệt tại Pháp, Đức, và Thụy Sĩ.

Giáo dân Việt Nam nhìn chung không đạt mức kiến thức phụng vụ và khát vọng hoài cổ mạnh mẽ để trở về với thời đại Trung cổ. Thế nhưng, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa với nền thông tin đại chúng rộng mở, biết đâu nhiều điều tưởng chừng không thể vẫn có thể xảy ra.

Người Việt Nam ưa chuộng “hàng độc” và mê “hàng ngoại”. Biết đâu tinh thần này cũng thấm nhiễm vào thánh đường và chi phối môi trường phụng vụ thánh. Được sự hỗ trợ của luật motu proprio trong Summorum Pontificum, một đôi bạn trẻ cùng gia đình hai họ đến xin cha sở cử hành thánh lễ Hôn Nhân theo nghi thức 1962 cho thêm phần “chơi nổi”, hay gia đình họ hàng ông bà cố nào đó muốn được cử hành nghi thức an táng theo nghi thức Latinh Công Đồng Trentô để xứng danh “ông cố, bà cố”, không biết lúc đó vị linh mục sở tại sẽ đối phó ra sao?

Linh mục Frank Coady, giám đốc văn phòng phụng vụ của giáo phận Salina tại Mỹ tâm sự: Tôi chịu chức linh mục năm 1976, sáu năm sau cuộc cách mạng phụng vụ thánh lễ trong Giáo Hội Công Giáo, chưa một lần cử hành thánh lễ bằng tiếng Latinh. Một lần, cách đây 25 năm, khi tôi đang là phó xứ phụ trách thiếu nhi và giới trẻ trong giáo xứ, một nhóm học sinh muốn được tham dự thánh lễ bằng tiếng Latinh - thuở đó cần phải có phép của giám mục sở tại. Tôi bắt đầu nghiên cứu, học hỏi, và thực tập. Chuyện tưởng dễ nhưng không đơn giản chút nào!

Cha sở của tôi, Đức Ông Thomas Keogan, cảm nhận nỗi khốn khổ đó và đồng ý cử hành thánh lễ thay tôi “Dù gì mình cũng xuất thân từ hệ trường lớp cũ”, Đức Ông tự nhủ. Sau thánh lễ Đức Ông tìm tôi và thì thầm: “Lần đầu và lần cuối. Không hề có lần hai”. Chính Đức Ông cũng ngạc nhiên cuộc trở về với Latinh sao lắm gian nan lận đận thế.

Các linh mục trẻ Việt Nam, nhất là hàng ngũ được đào tạo sau Vatican II, hoặc mới hơn, sau 1975 không qua giai đoạn Tiểu Chủng Viện, nghĩ gì khi được yêu cầu cử hành thánh lễ bằng tiếng Latinh với nghi thức thánh lễ 1962? Tông Thư cảm nhận điều đó nên khẳng định rõ để cử hành nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô, người linh mục phải có khả năng Latinh đủ để cử hành nghi thức một cách tri thức và ý thức.

Nhu cầu trở về với nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô tuy chỉ là thiểu số nhỏ bé, nhưng cũng đủ để khơi dậy bao khúc mắc, đặc biệt qua hướng rộng mở của Summorum Pontificum.

Với người tín hữu Việt Nam, Summorum Pontificum có lẽ không hẳn để thi hành nhưng là cơ hội nhìn lại để thăng tiến.

Trước tiên, khi cho phép nghi thức phụng vụ Công Đồng Trentô cùng đồng hành với Vatican II, Đức Bênêđitô muốn khẳng định gia sản tiền Vatican II không hề là “rác rưởi” hay lầm đường lạc lối. Và những gì thuộc thế hệ mới không hẳn tốt hơn, hay hơn, đẹp hơn di sản quá khứ. Lịch sử Giáo Hội không hề có loại bỏ, chỉ là phát triển và tăng trưởng theo đúng nền tảng Tông Truyền của mình. Thái độ dè bỉu hay tiêu cực với ngôn ngữ Latinh và những nghi thức phụng vụ cổ xưa là đi ngược với tinh thần của Tông Thư Summorum Pontificum.

Từ khóe nhìn trên, cuộc đối thoại đại kết với các giáo phái Kitô Giáo khác, đặc biệt nhóm truyền thống chủ nghĩa trường phái Lefebvre, cũng được nhìn theo chiều hướng tích cực, rộng mở, và kính trọng. Summorum Pontificum không được hiểu là bước nhượng bộ nhằm lôi kéo các giáo phái ly khai trở về với Giáo Hội Công Giáo. Summorum Pontificum chính là nhìn lại mình và điều chỉnh chính mình cho phù hợp với Giáo Hội của Đức Kitô và những gì Đức Kitô thực sự muốn nơi Giáo Hội.

Ý hướng của Đức Bênêđitô về phụng vụ cũng được thể hiện rõ nét trong Summorum Pontificum. Ngài muốn phụng vụ Công Đồng Trentô tồn tại và được kính trọng. Ngài muốn phụng vụ hậu Vatican II được ảnh hưởng và thấm nhuần tinh thần phụng vụ cổ xưa. Cuộc canh tân phụng vụ Vatican đề cao sáng tạo tính và hội nhập văn hóa dân tộc địa phương, và đôi khi đã bước quá đà. Điều đó không những làm tổn thương bao tâm hồn tín hữu tâm thành tìm Chúa qua phụng vụ, nhưng còn tổn hại chính bản chất thánh thiêng của phụng vụ. Summorum Pontificum mời gọi một quân bình hóa giữa nét sáng tạo độc đáo hôm nay và truyền thống cổ truyền trong Giáo Hội. Summorum Pontificum đi tìm một hòa trộn cho những tinh hoa của thời đại mới với di sản quý báu của Giáo Hội bắt rễ nơi Đức Kitô. Summorum Pontificum là bước dọ dẫm cho một “cuộc canh tân mới giữa những canh tân” trong Giáo Hội hôm nay.

Nguon: http://www.dunglac.org/
hiepthong/upload/f__1195533992.htm

Trang Suy Niệm