THÁNH LỄ QUAY LÊN
THÁNH LỄ QUAY XUỐNG
Tiến sĩ Jb Vubao
Ngày 7 tháng 7 năm
2007 vừa qua, Tòa Thánh Vatican giới thiệu với toàn Giáo Hội
Công Giáo bức Tông Thư của Đức Bênêđitô XVI dưới nhan đề
‘Summorum Pontificum’ (Về quyền tối cao Giáo Hoàng). Đây là văn
kiện thuộc loại motu proprio, nghĩa là dựa trên quyền bính riêng
của vị Giáo Chủ.
Summorum
Pontificum cho phép các linh mục có thể cử hành nghi thức thánh
lễ cũ trước
Vatican II trong phòng riêng hoặc nơi thánh đường có giáo dân
tham dự, ngoại trừ Tuần Tam Nhật Thánh; đặc biệt, khi có một
nhóm giáo dân “căn bản” yêu cầu. Qua bức Tông thư, Đức Bênêđitô
XVI nhắc nhớ các giám mục nên tạo mọi dễ dàng cho các cộng đoàn
giáo xứ cử hành thánh lễ kiểu cũ khi có yêu cầu. Nếu linh mục và
các giám mục địa phương không đáp ứng thỏa đáng nhu cầu người
giáo dân, luật motu proprio cho phép giáo dân đệ trình trực tiếp
với Ủy Ban Ecclesia Dei thuộc Tòa Thánh.
Nghi thức thánh lễ
tiền Vatican II - hay chính xác hơn, Nghi thức thánh lễ Công
Đồng Trentô - còn được mệnh danh là “Nghi Thức Thánh Lễ 1962” vì
đó là lần canh tân nghi thức sau cùng trước khi bước vào thời
đại Vatican II (1962-1965). Một số người gọi đó là “Thánh Lễ
Latinh” để phân biệt với thánh lễ hiện tại sử dụng ngôn ngữ địa
phương. Cách gọi này không chuẩn lắm vì nghi thức thánh lễ hôm
nay vẫn cho phép sử dụng tiếng Latinh. Ngôn ngữ bình dân thích
phân biệt “thánh lễ quay lên” với “thánh lễ quay xuống”, ám chỉ
cuộc chuyển đổi 180 độ trong phụng vụ mới. Đức Bênêđitô trong
‘Summorum Pontificum’ gọi nghi thức thánh lễ mới là nghi thức
“thông thường” của thánh lễ, và nghi thức tiền Vatican II là
hình thức thánh lễ “ngoại thường”; nghĩa là, không có hai loại
thánh lễ, nhưng chỉ là hai hình thức khác nhau của một hy lễ
Thánh Thể.
Summorum
Pontificum không chỉ giới hạn trong việc cử hành thánh lễ, nhưng
bao gồm các nghi
thức bí tích khác, kể cả nghi thức an táng dựa theo cấu trúc
“Nghi thức 1962”. Những quyết định trong bức Tông Thư bắt đầu có
hiệu lực từ 14 tháng 9, 2007, lễ Suy tôn Thánh Giá. Khi công bố
Summorum Pontificum, Đức Thánh Cha xác định đây là “hoa trái của
bao suy tư, trải qua bao thăm dò và tư vấn, kèm theo bao lời
cầu”.
Thực ra, đây không là
quyết định quá mới lạ với Giáo Hội Công Giáo. Năm 1984 và sau đó
1988, Đức Gioan Phaolô II đã cho phép cử hành Nghi thức thánh lễ
1962 với sự đồng ý của giám mục địa phương. Summorum Pontificum
chỉ mở rộng và khuyến khích các giám mục, linh mục nên cử hành
thánh lễ Công Đồng Trentô khi có yêu cầu từ phía giáo dân, và
không nhất thiết sự phê chuẩn từ phía bản quyền địa phương.
Kèm theo bức Tông
Thư, Đức Bênêđitô XVI còn gửi cho các giám mục toàn thế giới lá
thư giải thích Tông Thư trên, đồng thời trấn an các giám mục
trước nỗi lo một cuộc phân rẽ mới trong Giáo Hội hoặc thoái lui
với Công Đồng Vatican II.
Summorum
Pontificum với Giáo Hội Toàn Cầu
Hồng Y Camillo Ruini,
Phó Giáo Phận Roma, tiết lộ động lực đầu tiên và chính yếu dẫn
đến Tông Thư Summorum Pontificum là cuộc hiệp nhất trong Giáo
Hội, một “bước trước” trong cuộc hòa giải với giới công giáo
truyền thống là các thành viên thuộc nhóm Piô X do Tổng Giám Mục
Marcel Lefebvre thành lập. Hiện nay, bốn giám mục thuộc nhóm này
vẫn trong tình trạng vạ tuyệt thông vì được truyền chức ngoài
thẩm quyền Roma.
Để xác minh điều đó,
ngày 10 tháng 7 năm 2007 Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin cũng công bố
“Những lời đáp cho vấn nạn liên quan đến một số khía cạnh
tín lý về Giáo Hội” do Hồng Y Bộ Trưởng William Levada
ký. Được xem là khai sáng những tín điều Giáo Hội Công Giáo,
thực ra, tài liệu nối tiếp Summorum Pontificum cổ võ nền hiệp
nhất với giáo phái công giáo truyền thống tách rời khỏi Giáo Hội
sau thời Công Đồng Vatican II.
Tài liệu đưa ra năm
vấn nạn cụ thể, nhưng có lẽ vấn nạn đầu tiên được xem là điểm
nòng cốt: Công Đồng Vatican II có thay đổi tín điều công giáo về
Giáo Hội không ? Rõ ràng đây không là vấn nạn của Chính Thống
Giáo hay các giáo phái Tin Lành, nhưng là chìa khóa then chốt
của những người dõi theo bước chân Tổng Giám Mục Marcel
Lefebvre, tin rằng Giáo Hội với Công Đồng Vatican II đã cố tình
xoay chuyển lời dạy truyền thống của Giáo Hội.
Tài liệu trả lời:
Công đồng Vatican
II đã không thay đổi và không hề có ý định thay đổi tín điều
công giáo về Giáo Hội. Đúng ra, Công Đồng khai triển, đào sâu,
và giải thích tròn đầy hơn tín điều đó. Đây chính là mục tiêu
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII xác quyết ngay khi khai mạc Công
Đồng. Đức Phaolo VI khi ban hành Hiến Chế Lumen Gentium cũng xác
quyết tín điều truyền thống của Giáo Hội ngàn năm như một.
“Những gì Đức Kitô muốn, chúng tôi cũng đang muốn. Những gì Giáo
Hội đã truyền dạy qua bao thế kỷ, chúng tôi cũng đang giảng
dạy”.
Đáp lời Tông Thư
Summorum Potificum, Giám Mục Bernard Fellay, Tổng Toàn Quyền
Giáo Phái Piô X, tuyên bố:
Đây thực là một
ngày đáng nhớ trong lịch sử. Chúng tôi muốn gửi đến Đức Bênêđitô
XVI lời biết ơn sâu xa. Tông Thư của ngài là món quà của ơn ban.
Đây không chỉ là một bước tiến, nhưng là bước đi đúng hướng. Đây
còn là một hành vi công lý, một trợ giúp siêu nhiên phi thường
giữa khoảng khắc khủng hoảng trầm trọng nơi Giáo Hội.
Ngay trong lòng Giáo
Hội Công Giáo, những người ủng hộ nghi thức thánh lễ tiền
Vatican II cũng bày tỏ nỗi mừng vui với bức Tông Thư của Đức
Bênêđitô. Linh Mục Joseph Kramer, chánh xứ San Gregorio Dei
Muratori, một trong ba giáo xứ tại Roma được phép cử hành nghi
thức thánh lễ 1962 không ngừng ngạc nhiên: “Tông Thư của Đức
Bênêđitô XVI vượt quá những gì chúng tôi đang kỳ vọng”.
Michael Dunnigan, chủ
tịch nhóm Una Voce America từng đấu tranh duy trì các nghi thức
cổ xưa trong Giáo Hội, phấn khởi ra mặt: “Thánh lễ truyền thống
là viên đá quý trong di sản Giáo Hội, và Đức Thánh Cha đã
tiến một bước quan trọng nhất phục hồi lại kho tàng gia bảo của
Giáo Hội cho người tín hữu”.
Trong khi đó, nữ tu
Mary Collins thuộc dòng Benedictine, chuyên gia về phụng vụ với
nhiều cuốn sách nổi tiếng, e ngại thẩm quyền mục vụ của các giám
mục địa phương bị ảnh hưởng và quyền hành tập trung của Roma
ngày càng lớn qua Tông Thư Summorum Pontificum. “Luật motu
proprio có thể dẫn đến nhiều hàm hồ và gây phân rẽ trong lòng
Giáo Hội một cách chủ ý hay vô tình”.
Linh Mục Dòng Tên
Keith Pecklers, chuyên gia phụng vụ thuộc Đại Học Gregory tại
Roma đưa ra vấn nạn Giáo Hội học: “Những người ủng hộ nghi thức
thánh lễ cũ phần lớn bất đồng quan điểm với Vatican II trong
khóe nhìn Giáo Hội đối thoại với thế giới hiện đại, thích ứng
phụng vụ với các nền văn hóa khác biệt, đẩy mạnh đối thoại đại
kết với các Kitô giáo khác và đối thoại liên tôn với người Do
thái và Hồi giáo”. Theo ngài, việc cho phép trở về với nghi thức
thánh lễ tiền Vatican II không giải quyết được ngọn núi lửa
đang sục sôi chờ ngày phát nổ giữa lòng Giáo Hội toàn cầu.
Tiếp nhận Summorum
Pontificum, với chúng ta, điều quan trọng không là vấn đề
mới-cũ, quay lên hay quay xuống. Khi cho phép cả hai hình thức
thánh lễ cùng hiện diện trong cuộc sống Giáo hội, Đức Bênêđitô
muốn nhấn mạnh tính liên tục trong truyền thống Giáo Hội. Lịch
sử Phụng Vụ Giáo Hội luôn chứng minh một chu trình tăng trưởng
và phát triển, không hề có đoạn tuyệt, dứt bỏ. Đức Thánh Cha
giải thích: “Những gì các thế hệ trước đây cho là thánh thiêng,
vẫn đầy tính thánh thiêng và đáng kính trọng đối với chúng ta
hôm nay. Không thể một sáng một chiều cái cũ bị hủy bỏ, cấm
đoán, và có vẻ xem ra nguy hại nữa”.
Hơn thế, Tông Thư còn
đề cao nét phong phú hỗ tương giữa hai hình thức thánh lễ “thông
thường” và “ngoại thường” bằng cách cho phép sử dụng chu trình
bài đọc của nghi thức thánh lễ mới trong khi cử hành nghi thức
thánh lễ 1962, kể cả việc sử dụng ngôn ngữ địa phương với các
bài đọc.
Nền phụng vụ Vatican
II rộng mở cho sáng tạo tính và nét hội nhập văn hóa đôi khi
biến phụng vụ thánh thành sàn diễn quá “đời”. Ngày càng có nhiều
người trẻ cảm thấy phụng vụ hiện đại thật “khó chấp nhận” và
muốn “quay ngược dòng tìm về nét thánh thiêng phụng vụ thuở ban
sơ”. Đức Bênêđitô khi còn là Hồng Y Bộ Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Về
Đức Tin cũng nhiều lần diễn tả tâm trạng đó: “Tôi từng cảm
nghiệm giai đoạn sống này với đầy hy vọng và cũng đầy hàm hồ.
Và tôi cũng từng chứng kiến bao méo mó trong phụng vụ khiến
nhiều tâm hồn bám rễ sâu trong niềm tin Giáo Hội phải rên xiết
đớn đau”.
Tuy nhiên, cũng phải
chân nhận một số vấn đề phát sinh khi cùng sử dụng hai Nghi thức
thánh lễ trong Giáo Hội. Trước tiên là năm phụng vụ. Nghi thức
phụng vụ mới chuyển rất nhiều lễ trọng trong chu trình phụng vụ
vào các ngày Chúa Nhật. Không lẽ lịch phụng vụ hôm nay bao gồm
hai lễ Hiển Linh: Lễ Chúa nhật Hiển Linh cho những ai cử hành
nghi thức mới và ngày 6 tháng Giêng cho những ai theo nghi thức
1962 ? Mùa phụng vụ giữa hai nghi thức cũng không hề đi chung
lối đường. Những Chúa nhật tuần 7, tuần 6, tuần 5 trước Mùa Chay
không hề có trong năm phụng vụ mới. Và những Chúa Nhật sau lễ
Hiện Xuống trong Nghi thức phụng vụ Công đồng Trentô không hẳn
là Chúa Nhật mùa Thường Niên theo nghi thức mới. Thật quá phức
tạp và rắc rối!
Nên nhớ rằng Summorum
Pontificum không chỉ giới hạn trong nghi thức thánh lễ nhưng
rộng mở ra các bí tích khác. Một ví dụ, nghi thức khai tâm Kitô
Giáo hậu Vatican II không chỉ tập trung vào cử hành dấu chỉ bí
tích nhưng dẫn đưa người tân tòng từng bước tiến vào nguồn suối
cứu độ và hội nhập vào cộng đồng dân Chúa qua chu trình phụng
vụ. Thật khó nghĩ cho các linh mục, tu sĩ, và giảng viên giáo lý
khi được yêu cầu tuân theo nghi thức rửa tội 1962: làm sao để
phối hợp giữa phụng vụ với khóe nhìn giáo lý mới?
Điểm nóng trong nghi
thức thánh lễ 1962 là lời cầu phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh cho
người Do Thái quy phục về với Chúa Kitô. Rất may Tông Thư đưa ra
luật trừ cho cử hành phụng vụ Tuần Thánh. Tuy nhiên, dù muốn dù
không, quay về với nếp xưa lối cũ luôn gợi lại vết thương đau
trong tương giao Công Giáo - Do Thái Giáo.
Sau cùng, nghi thức
thánh lễ hậu Vatican II được phổ biến năm 1970 và trải qua nhiều
canh tân thay đổi. Lần thay đổi mới nhất vào thời Đức Gioan
Phaolô II năm 2000. Trong khi đó, nghi thức thánh lễ Công Đồng
Trentô sau lần canh tân năm 1962 do Đức Gioan XXIII đã được đóng
gói kỹ trong kho hay nơi các bảo tàng viện. Giáo Hội đồng hành
với thế giới trải qua bao đổi thay suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Những lời cầu trong nghi thức thánh lễ 1962 có còn đại diện cho
những nhu cầu và niềm khát vọng của người thế hệ hôm nay? Biết
bao vị thánh mới được tuyên phong xứng đáng là tấm gương cho
thời đại hôm nay sẽ không hề được nhắc nhớ khi cử hành phụng vụ
theo Nghi thức 1962. Cần thời gian dài cho cuộc canh tân phụng
vụ, nhưng không phải phụng vụ hôm nay, mà là một nghi thức phụng
vụ... tiền Vatican II. Thật khó hiểu và khó... nắm bắt!
Summorum
Pontificum với Giáo Hội Việt Nam
Nếu ai từng thăm
viếng một số thánh đường cổ kính tại Việt Nam sẽ nhận ra ngoài
bàn thờ đặt giữa cung thánh còn một bàn thờ phía trên với nhà
tạm thiết kế trang trọng chính giữa, đó là chứng tích của nền
phụng vụ tiền Vatican 2 với việc cử hành thánh lễ quay lên theo
nghi thức Công Đồng Trentô.
Có lẽ Summorum
Pontificum không gây tác động lớn với Giáo Hội Việt Nam, phần vì
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam rất nhanh chóng tiếp nhận và thích
ứng với phụng vụ mới của Vatican II; phần khác ngôn ngữ Latinh
không được phổ biến rộng rãi với người tín hữu Việt Nam, mặc dù
trước năm 1975 tại Miền Nam Việt Nam ngôn ngữ Latinh được Bộ
Giáo Dục công nhận trong giảng dạy như một thứ cổ ngữ, tương
đương với tiếng Hán Nho. Tuy nhiên Latinh cũng chỉ được phổ biến
hạn hẹp trong môi trường chủng viện, dòng tu.
Tông Thư của Đức
Bênêđitô xác định rõ những ai “có hấp lực rõ ràng với nghi thức
Công Đồng Trentô” có thể yêu cầu linh mục trong giáo xứ mình
cử hành thánh lễ theo nghi thức 1962. Một ví dụ, gia đình
Garrett Dalhoff sinh sống tại Tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, đã
phải chấp nhận bao hy sinh để được tham dự thánh lễ Chúa Nhật
hàng tuần theo nghi thức tiền Vatican II. Mỗi sáng Chúa Nhật,
hai vợ chồng và 8 người con thức giấc lúc 5 giờ 30, một hy sinh
đáng kể cho ngày nghỉ cuối tuần. Chưa hết, họ phải vượt đoạn
đường hơn 120 km, kịp giờ lễ lúc 8 giờ 30 được cử hành theo nghi
thức 1962 bằng tiếng Latinh. Đó là cái giá phải trả cho những
giáo dân như gia đình Dalhoff. Ông tâm sự: “Càng cảm nghiệm với
thánh lễ Latinh, tôi càng yêu mến ngày Chúa Nhật và sẵn sàng
chiếm đoạt món quà quý giá này bằng bất cứ giá nào”. Nay với
Summorum Pontificum, họ có thể cùng với vài gia đình khác yêu
cầu cha sở địa phương cử hành thánh lễ riêng cho họ tại giáo
xứ của mình.
Ngay tại Hoa Kỳ, Đức
Ông James Moroney, giám đốc điều hành văn phòng phụng vụ của Hội
Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đánh giá khoảng “2 đến 3 phần trăm” số linh
mục tại Mỹ biết cử hành thánh lễ tiền Vatican II. Và với những
qui luật rộng mở của Summorum Pontificum, Đức Ông tin rằng số
linh mục sẽ cử hành thánh lễ theo “nghi thức 1962” cũng không
vượt quá 10 phần trăm.
Quả thế, nhiều dự
đoán cho rằng Sumorum Pontificum sẽ gây tác động mạnh đến các
quốc gia Âu châu hơn là Mỹ Châu và Á châu, đặc biệt tại Pháp,
Đức, và Thụy Sĩ.
Giáo dân Việt Nam
nhìn chung không đạt mức kiến thức phụng vụ và khát vọng hoài cổ
mạnh mẽ để trở về với thời đại Trung cổ. Thế nhưng, trong hoàn
cảnh toàn cầu hóa với nền thông tin đại chúng rộng mở, biết đâu
nhiều điều tưởng chừng không thể vẫn có thể xảy ra.
Người Việt Nam ưa
chuộng “hàng độc” và mê “hàng ngoại”. Biết đâu tinh thần này
cũng thấm nhiễm vào thánh đường và chi phối môi trường phụng vụ
thánh. Được sự hỗ trợ của luật motu proprio trong Summorum
Pontificum, một đôi bạn trẻ cùng gia đình hai họ đến xin cha sở
cử hành thánh lễ Hôn Nhân theo nghi thức 1962 cho thêm phần
“chơi nổi”, hay gia đình họ hàng ông bà cố nào đó muốn được cử
hành nghi thức an táng theo nghi thức Latinh Công Đồng Trentô để
xứng danh “ông cố, bà cố”, không biết lúc đó vị linh mục sở tại
sẽ đối phó ra sao?
Linh mục Frank Coady,
giám đốc văn phòng phụng vụ của giáo phận Salina tại Mỹ tâm sự:
Tôi chịu chức linh mục năm 1976, sáu năm sau cuộc cách mạng
phụng vụ thánh lễ trong Giáo Hội Công Giáo, chưa một lần cử hành
thánh lễ bằng tiếng Latinh. Một lần, cách đây 25 năm, khi tôi
đang là phó xứ phụ trách thiếu nhi và giới trẻ trong giáo xứ,
một nhóm học sinh muốn được tham dự thánh lễ bằng tiếng Latinh -
thuở đó cần phải có phép của giám mục sở tại. Tôi bắt đầu nghiên
cứu, học hỏi, và thực tập. Chuyện tưởng dễ nhưng không đơn giản
chút nào!
Cha sở của tôi, Đức
Ông Thomas Keogan, cảm nhận nỗi khốn khổ đó và đồng ý cử hành
thánh lễ thay tôi “Dù gì mình cũng xuất thân từ hệ trường lớp
cũ”, Đức Ông tự nhủ. Sau thánh lễ Đức Ông tìm tôi và thì thầm:
“Lần đầu và lần cuối. Không hề có lần hai”. Chính Đức Ông cũng
ngạc nhiên cuộc trở về với Latinh sao lắm gian nan lận đận thế.
Các linh mục trẻ Việt
Nam, nhất là hàng ngũ được đào tạo sau Vatican II, hoặc mới hơn,
sau 1975 không qua giai đoạn Tiểu Chủng Viện, nghĩ gì khi được
yêu cầu cử hành thánh lễ bằng tiếng Latinh với nghi thức thánh
lễ 1962? Tông Thư cảm nhận điều đó nên khẳng định rõ để cử hành
nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô, người linh mục phải có khả
năng Latinh đủ để cử hành nghi thức một cách tri thức và ý thức.
Nhu cầu trở về với
nghi thức thánh lễ Công Đồng Trentô tuy chỉ là thiểu số nhỏ bé,
nhưng cũng đủ để khơi dậy bao khúc mắc, đặc biệt qua hướng rộng
mở của Summorum Pontificum.
Với người tín hữu
Việt Nam, Summorum Pontificum có lẽ không hẳn để thi hành nhưng
là cơ hội nhìn lại để thăng tiến.
Trước tiên, khi cho
phép nghi thức phụng vụ Công Đồng Trentô cùng đồng hành với
Vatican II, Đức Bênêđitô muốn khẳng định gia sản tiền Vatican II
không hề là “rác rưởi” hay lầm đường lạc lối. Và những gì thuộc
thế hệ mới không hẳn tốt hơn, hay hơn, đẹp hơn di sản quá khứ.
Lịch sử Giáo Hội không hề có loại bỏ, chỉ là phát triển và tăng
trưởng theo đúng nền tảng Tông Truyền của mình. Thái độ dè bỉu
hay tiêu cực với ngôn ngữ Latinh và những nghi thức phụng vụ cổ
xưa là đi ngược với tinh thần của Tông Thư Summorum Pontificum.
Từ khóe nhìn trên,
cuộc đối thoại đại kết với các giáo phái Kitô Giáo khác, đặc
biệt nhóm truyền thống chủ nghĩa trường phái Lefebvre, cũng được
nhìn theo chiều hướng tích cực, rộng mở, và kính trọng. Summorum
Pontificum không được hiểu là bước nhượng bộ nhằm lôi kéo các
giáo phái ly khai trở về với Giáo Hội Công Giáo. Summorum
Pontificum chính là nhìn lại mình và điều chỉnh chính mình cho
phù hợp với Giáo Hội của Đức Kitô và những gì Đức Kitô thực sự
muốn nơi Giáo Hội.
Ý hướng của Đức
Bênêđitô về phụng vụ cũng được thể hiện rõ nét trong Summorum
Pontificum. Ngài muốn phụng vụ Công Đồng Trentô tồn tại và được
kính trọng. Ngài muốn phụng vụ hậu Vatican II được ảnh hưởng và
thấm nhuần tinh thần phụng vụ cổ xưa. Cuộc canh tân phụng vụ
Vatican đề cao sáng tạo tính và hội nhập văn hóa dân tộc địa
phương, và đôi khi đã bước quá đà. Điều đó không những làm tổn
thương bao tâm hồn tín hữu tâm thành tìm Chúa qua phụng vụ,
nhưng còn tổn hại chính bản chất thánh thiêng của phụng vụ.
Summorum Pontificum mời gọi một quân bình hóa giữa nét sáng
tạo độc đáo hôm nay và truyền thống cổ truyền trong Giáo
Hội. Summorum Pontificum đi tìm một hòa trộn cho những tinh hoa
của thời đại mới với di sản quý báu của Giáo Hội bắt rễ nơi Đức
Kitô. Summorum Pontificum là bước dọ dẫm cho một “cuộc canh tân
mới giữa những canh tân” trong Giáo Hội hôm nay.
Nguon:
http://www.dunglac.org/
hiepthong/upload/f__1195533992.htm